Thứ Năm, 26 tháng 2, 2026

GS. NGHIÊM THẨM

 Bài viết #014



Bút ký học đường: Brian-TUỆ TRÍ NGUYỄN

GIỚI THIỆU MỘT TRONG GIÁO SƯ DẬY MÔN LỊCH SỬ MỸ THUẬT VIỆT NAM VÀ ĐÔNG PHƯƠNG TẠI TRƯỜNG QG. CAO ĐẲNG MỸ THUẬT-SG (TRƯỚC NĂM 1975)

Cố Giáo sư NGHIÊM THẨM                      

Giáo sư Nghiêm Thẩm là một trong những học giả uy tín và có tầm ảnh hưởng lớn trong lĩnh vực nghiên cứu lịch sử mỹ thuật và văn hóa Đông phương tại Việt Nam. Ông từng giữ chức vụ Giám đốc Viện Bảo Tàng Quốc Gia Sài Gòn, nơi ông đã đóng góp quan trọng vào việc bảo tồn và phát triển các giá trị văn hóa, nghệ thuật của dân tộc.

Ngoài vai trò quản lý, Giáo sư Nghiêm Thẩm còn là giảng viên tại Đại học Văn Khoa và Cao Đẳng Mỹ Thuật Sài Gòn, nơi ông truyền đạt kiến thức sâu rộng về lịch sử mỹ thuật Việt Nam và Đông phương cho nhiều thế hệ sinh viên. Với niềm đam mê và sự am hiểu sâu sắc, ông đã khơi gợi niềm yêu thích nghiên cứu văn hóa và nghệ thuật cổ truyền của đất nước trong lòng nhiều người.

Một trong những công trình nghiên cứu nổi bật của ông là về trống đồng Đông Sơn, một biểu tượng quan trọng của nền văn hóa Đông Sơn, thời kỳ lịch sử có vai trò quan trọng trong quá trình hình thành và phát triển của dân tộc Việt Nam.

 Trống đồng Đông Sơn không chỉ là hiện vật khảo cổ, mà còn là minh chứng rõ nét về trình độ kỹ thuật và nghệ thuật của người Việt cổ. Giáo sư Nghiêm Thẩm đã dành nhiều tâm huyết để nghiên cứu các hoa văn, hình tượng trên trống đồng, từ đó rút ra những kết luận quý giá về đời sống, tín ngưỡng và văn hóa của cư dân Đông Sơn.

Thông qua những nghiên cứu sâu sắc và công phu, Giáo sư Nghiêm Thẩm đã góp phần quan trọng vào việc khẳng định giá trị của trống đồng Đông Sơn không chỉ trong lịch sử Việt Nam mà còn trong bối cảnh văn hóa khu vực Đông Nam Á. Ông cũng đã xuất bản nhiều bài viết, công trình nghiên cứu về trống đồng Đông Sơn, từ đó tạo dựng nền tảng cho các nghiên cứu sau này trong lĩnh vực khảo cổ học và lịch sử mỹ thuật.

B-TTN


*Sưu tầm trên mạng

GS. VÕ LONG TÊ (1917 - 2017)

Bút ký học đường: Brian-TUỆ TRÍ NGUYỄN

Giới thiệu giáo sư Võ Long Tê

 là thầy giáo giảng dạy Thẩm Mỹ Học tại trường Cao Đẳng Mỹ Thuật Sg. Trong những niên khóa từ 1972 đến 1974

     Võ Long Tê sinh ngày 28-6-1927 tại Huế, bị đi tù từ sau ngày 30-4-1975 đến 1980. Sau đó, ông bà được xuất ngoại do sự can thiệp của Hiệp Hội Nhà Văn Pháp Ngữ mà ông là hội viên. Ông đến sinh sống đoàn tụ với các con tại Calgary, Canada năm 1991.

      Trước 1975, ông là hội viên của nhiều tổ chức tôn giáo và văn hóa Việt Nam và quốc tế: Phong Trào Trí Thức Công Giáo VN (Pax Romana), Trung Tâm Văn Bút, Hội Nghiên Cứu Đông Dương, Trung Tâm Văn Hóa Arthur Rimbaud ở Charteville-Mézières (Pháp), Hiệp Hội Nhà Văn Pháp Ngữ (Paris)…

      Ông đã đảm nhiệm nhiều chức vụ quan trọng liên quan tới văn hóa:

      Giáo sư văn chương Trường Trung Học Khải Định, Huế

      Giáo sư thẩm mỹ học các Trường Cao Đẳng Mỹ Thuật Sài Gòn và Huế

      Tùy viên Văn Hóa tại Tòa Đại Sứ VNCH Paris

      Chủ Tịch Ủy Ban Nhân Văn Hội Đồng Văn Hóa Giáo Dục

      Giám khảo Giải Thưởng Văn Học Nghệ Thuật Toàn Quốc…

      Về các tác phẩm, Võ Long Tê đã viết nhiều sách biên khảo. Hai tác phẩm quan trọng viết bằng tiếng Việt: Lịch Sử Văn Học Công Giáo VN (1965), Dẫn Nhập Nghiên Cứu Tiếng Việt Và Chữ Quốc Ngữ (xuất bản tại Pháp 1997). Ngoài ra còn nhiều tác phẩm nghiên cứu khác viết bằng tiếng Pháp về Hàn Mạc Tử, về bài vãn kể truyện Thánh I-nê (Agnès), về nhà văn Công Giáo Pháp Paul Claudel, về núi Vọng Phu, về Hoàng Sa Trường Sa…Tác giả còn cho biết ông đã hoàn thành một công trình nghiên cứu về Hàn Mặc Tử dài trên ngàn trang, đang chờ phương tiện để xuất bản.

      Về thơ, sáng tác của Võ Long Tê cũng rất phong phú: Ánh Sáng Trong Đêm (1966), Tiệc Cưới (1966), Khối Tình (1968), Symphonie orientale (1971), Version à l’Unité (1973), L’Univers sans barreaux (1992-1997).

      Tôi hân hạnh quen biết ông Võ Long Tê trong sinh hoạt của Phong Trào Pax Romana ở Sài Gòn trước 1975. Ông lớn tuổi hơn tôi nhiều nhưng qúy mến và cư xử đầy tình thân thiện với tôi. Tôi kính trọng ông và cũng học hỏi được nhiều điều nơi ông.

      Khi sống ở Calgary, tôi không ngờ được tái ngộ với ông tại đây khi chúng tôi cùng viết cho tập san Chân Lý của các cha thuộc Phụ Tỉnh Đa Minh VN Hải Ngoại. Từ đó chúng tôi gặp gỡ nhau nhiều hơn và cũng có dịp trao đổi quan điểm thường xuyên hơn.

      Trong bốn năm năm trở lại đây, ông bỗng nhiên cắt đứt liên lạc với mọi người quen. Tôi âu lo gọi điện thoại đến văn phòng làm việc của cháu Võ Mỹ Ngọc, con gái ông, để hỏi thăm về tình trạng sức khỏe của ông. Mỹ Ngọc trả lời: “Bố cháu vẫn bình thường”. Tôi nói thêm: “Cho tôi gửi lời thăm bố cháu và nói với bố cháu, nếu có thể được, gọi phone hoặc gửi email cho tôi”. Mỹ Ngọc hứa sẽ nói lại với bố. Tôi trông chờ hồi âm của ông bạn vong niên hoài, nhưng chẳng bao giờ đến. Tôi muốn liên lạc lại với Mỹ Ngọc nhưng không biết số điện thoại mới của cô. Tôi chỉ đoán ông Võ Long Tê có vấn đề sức khỏe nên cần nghỉ ngơi và không muốn tiếp xúc với ai nữa. Tôi biết ông bị bệnh cao máu khá nặng.

      Chẳng ngờ, vào cuối tháng 8 vừa qua, khi đi nghỉ về, tôi được Giáo sư Ninh Văn Tú gọi điện thoại cho biết Giáo sư đã đọc tin ông Võ Long Tê qua đời trên nhật báo Calgary Herald phát hành ngày 25-8-2017. Tôi xin Giáo sư Tú gởi tờ báo đó cho tôi. Ông đã cắt mẩu tin thông báo của nhà quàn Evan J. Strong lớn bằng 3 ngón tay trao lại cho tôi. Đó không phải là cáo phó của gia đình, nhưng chỉ là một thông báo sơ sài của nhà quàn về những người qúa cố mà nhà quàn lo việc hậu sự, về ngày giờ thăm viếng và lễ an táng. Thông báo nhỏ xíu ở một góc báo địa phương thì bạn bè làm sao có thể biết để đến tiễn biệt ông. Khi biết thì mọi sự đã xong rồi. Tôi tìm không thấy tên thánh của ông Võ Long Tê, cũng không thấy nghi thức đưa xác vào nhà thờ làm phép. Ông Võ Long Tê không phải người đạo giòng. Ông theo Chúa từ tuổi thanh niên với đức tin rất mạnh, và dành cả đời để nghiên cứu và viết về đạo. Vậy mà khi chết không ai biết tên thánh để đọc kinh cầu nguyện cho ông, không được đưa vào thánh đường để nhận những ân sủng cuối cùng và vĩnh biệt anh em bạn bè ở đó. Biết nói sao bây giờ. Chỉ biết buồn!

      Khi gặp lại nhau ở Calgary, ông Võ Long Tê đã tặng tôi một số sách xuất bản sau 1975 của ông, trong đó có mấy tập thơ và tác phẩm biên khảo “Dẫn Nhập Nghiên Cứu Tiếng Việt Và Chữ Quốc Ngữ”. Vào mùa Xuân năm 2000, ông đưa tôi bài thơ L’Ordre divin (Trật tự của Trời) bằng tiếng Pháp và muốn tôi chuyển sang thơ tiếng Anh để ông cho vào tuyển tập thơ đa ngữ của ông. Ông cũng cho tôi đọc bản dịch tiếng Việt bài này do nhà văn nhà biên khảo Phạm Đình Khiêm thực hiện.

      Như một tưởng niệm đối với nhà thơ Võ Long Tê, tôi xin đăng lại nguyên văn bản tiếng Pháp của ông, cùng với bản dịch tiếng Việt của Phạm Đình Khiêm và bản thoát dịch tiếng Anh của tôi để mời qúy vị thưởng ngoạn, đồng thời ghi lại một chút di sản tinh thần của Võ Long Tê, một nhà văn, nhà thơ, nhà biên khảo hiếm có của Giáo Hội Công Giáo Việt Nam.



Nhà Văn Mặc Giao

Chủ Nhật, 25 tháng 1, 2026

Họa sĩ TRƯƠNG BỬU GIÁM (1949)














Truong Buu Giam is a Southern California-based artist whose work defies normal classification, falling somewhere in-between abstract and impressionism, with Asian art overtones. Applying his training in traditional Vietnamese watercolor on silk, Giam extends this technique to control and blend the flow of liquid resin, originally used to marbleize furniture or flooring, to create beautiful abstract backgrounds before accenting and complementing them with subject matter using acrylic paint.

Giam’s name means “Preserving the Precious and the Beautiful,” a fitting description for someone who captures the beauty of the physical world, from memories of personal encounters to interpretations of faraway landscapes, fauna and flora. Giam has fond memories of growing up in the Vietnamese coastal town of Vung Tau, south of Saigon, where he regularly spent time at the beach. As a young officer in the South Vietnamese Navy, he visited the many islands off the coast of South Vietnam and interacted with rich marine life such as turtles, fish and coral.   

Giam graduated from the National College of Fine Arts in Saigon, South Vietnam in 1970 and relocated to the United States after the Fall of Saigon in 1975. In his spare time he continued drawing and painting, and earned extra money at Christmas selling hand-painted Christmas cards. He returned to school, this time to study commercial art, which he applied in his work in graphic design for 10 years before starting his own graphics and printing company.

In 1992, Giam decided to finally pursue his dream of becoming an artist in earnest. He borrowed money from his brothers to exhibit at the Art Expo in Los Angeles, California, where he met with encouraging early success. He received publishing offers from multiple fine art publishing houses and, in 1996, achieved gallery representation by Exclusive Collections in La Jolla, San Diego.  He has been self-represented since 2001 and continues to sell his art at juried art shows around the United States every year. He earned Gold Medalist distinction at the Wildlife Art Show in San Dimas, California in 2004, was awarded the Outstanding Contribution as an Artist award by Artists for a Better World International in 2009 and, in 2015, claimed Best of Show and First Place in Oil at the Western Heritage Artists in Great Falls, Montana.


Trương Bửu Giám - Laguna Beach
Chùa Một Cột (Việt Nam Quê Hương Mến Yêu series)
Hồ Xuân Hương (Việt Nam Quê Hương Mến Yêu Series)
Big Sur (Pacific coast highway)
Desert liìe
My Darling

Xóm Nghèo” Việt Nam Quê Hương Mến Yêu 

Tháp Chàm (Nha Trang), bút sắt, “Việt Nam quê hương mến yêu series”

Xóm Bóng Nha Trang, (bút sắt), Việt Nam Quê Hương Mến Yêu

The Dream


Tượng TQLC trước Quốc Hội đã bị phá bỏ khi vừa cưỡng chiếm Sài Gòn. 
Bút sắt “Việt Nam Quê Hương Mến Yêu Series”


Chùa Thiên Mụ Huế (Việt Nam Quê Hương Mến Yêu Series)
Chợ Sài Gòn còn được gọi là Chợ Bến Thảnh ( Việt Nam Quê Hương Mến Yêu Series)

Nhà Thờ Đức Bà (Sài Gòn) “Việt Nam Quê Hương Mến Yêu Series “


“Họ là những anh hùng không tên tuổi “ kính xin thắp nén nhang lòng để tri ân những chiến sĩ QLVNCH đã vị quốc vong thân trong nhiệm vụ bảo vệ miền Nam Việt Nam Tự Do”
Arlene Dahl (American actress)
Mary MacGregor (American singer)
Jessica Lange ( King Kong movie)

1977 Design poster for Minnesota Homecoming.
Pen & ink 70 portrait of famous Minnesotans
Big sky and the sea (Biển Trời bao la)
“Sandy beach” (Cát biển)

“Two faces of life”
Monterey Pine
Impression garden
The beauty of color

“Fighting for Life”
“Flight Fantasy” truongbuugiam.com
Seven horses (Asian view of the West series, limited edition available), 
contact jimtruongtbg@gmail.com

Lions of the reef (Marine Series, Limited Edition prints available), 
Contact jimtruongtbg@gmail.com

Pieces (Marine series, Limited Edition prints available), Contact jimtruongtbg@gmail.com







Thứ Bảy, 16 tháng 8, 2025

CÀNH CỌ CỦA HOẠ SĨ …. NGUYỄN NGỌC CHÍNH

 Nguồn: https://cuuhocsinhphuyencom.wordpress.com/2017/02/23/canh-co-cua-hoa-si/










 Câu hỏi khiến người thưởng ngoạn tranh đôi lúc phải thắc mắc: họa sĩ giàu hay nghèo? Câu trả lời có lẽ còn tùy theo hoàn cảnh của từng người, nhưng nói chung, đều phải dựa theo các yếu tố về không gian và thời gian

Thuở thiếu thời, Pablo Picasso (1881-1973) bỏ học tại học viện mỹ thuật Academia de San FernandoMadrid, Tây Ban Nha, để qua Paris, nơi được mệnh danh là Trung tâm Nghệ thuật của châu Âu. Đó là vào năm 1900, Pablo chưa đầy 30 tuổi. Một giai đoạn khó khăn đối với họa sĩ trẻ trong hoàn cảnh nghèo túng, lạnh lẽo, và quan trọng hơn cả là sự tuyệt vọng.

Anh “thợ vẽ” có lúc đã phải đốt những tác phẩm của mình để sưởi ấm trong những đêm lạnh giá tại MontmartreMontparnasse, Paris. Bù lại, anh có dịp làm quen và kết bạn với những nhân vật nổi tiếng của Paris như người sáng lập trường phái hội họa siêu thực André Breton, nhà văn Gertrude Stein và nhà thơ Guillaume Apollinaire… Dù tiếng Pháp của Picasso khi đó hãy còn bập bẹ.

Chuyện kể năm 1911 Picasso và Apollinaire bị cảnh sát bắt giữ vì tình nghi hai người tính “ăn trộm” bức tranh Mona Lisa của Leonardo da Vinci trưng bày trong viện bảo tàng Louvre. May mắn chỉ là “tình nghi” nên hai người được thả ngay chứ không ngồi tù ngày nào.

pablo-picasso-va-georges-braqueThời trẻ của Picasso cơ cực, bần hàn là thế nhưng rồi ngày nay những tác phẩm của “ông vua tranh lập thể” đã chiếm 3 vị trí trong danh sách (179,4 triệu đô la), thứ 9 (155 triệu) và thứ 18 (106,5).

Khác với Pablo Picasso của châu Âu, Willem de Kooning (1904- 1997) là một họa sĩ thuộc trường phái trừu tượng người Mỹ gốc Hòa Lan, sinh ra ở Rotterdam. Kooning vẽ theo phong cách được gọi là “biểu hiện trừu tượng” (abstract expressionism) trong nhóm họa sĩ được biết đến như “Trường phái New York”.

Giống với Picasso, Kooning bỏ học văn hóa năm 1916 để làm thợ học việc trong một cơ sở thiết kế. Năm 1924, ông tham dự lớp đêm tại “Học viện Nghệ thuật Rotterdam” mà ngày nay đã đổi tên thành “Học viện Willem de Kooning”.

Chỉ hai năm sau, Kooning đến Hoa Kỳ như một “vị khách không mời” bằng cách “đi chui” trên tàu Shelley của Anh. Ngày 15/8/1926  tàu cập bến Newport News, Virginia, và tại đây, ông “khởi nghiệp” bằng nghề thợ sơn. Một năm sau ông đến Manhattan, sinh sống bằng đủ nghề, từ thợ mộc đến thợ sơn.

Bắt đầu sự khởi nghiệp trên đất Mỹ của Kooning tồi tệ đến như vậy nhưng hậu vận của ông lại khiến nhiều người phải mơ ước: tác phẩm “Interchange” của ông đứng hàng đầu trong 20 tác phẩm hội họa “đắt nhất thế giới”, được bán trong một cuộc đấu giá tại Christie’s, New York, lên tới 300 triệu đô la.

van-goughLịch sử cuộc bán đấu giá bức tranh đắt nhất thế giới “Interchange” (Giao thoa) được ghi lại với tên người bán là David Geffen, nhà tài phiệt hoạt động trong lĩnh vực giải trí và đồng thời là nhà hoạt động từ thiện. Tháng 9/2015 Geffen đã cho đấu giá bức tranh sơn dầu của Kooning và nhà đầu tư mạo hiểm, tỷ phú Ken Griffin, đã mua lại với giá 300 triệu đô la.

Nói chung, những cuộc bán đấu giá tranh của Kooning đều là những kỷ lục đặc biệt. Trong một loạt 5 bức tranh mang chủ đề “Phụ nữ” của ông có một bức mang tên “Woman III” cũng đã lọt vào danh sách “Top 20”.

Tháng 11/2006, cũng David Geffen đã bán bức “Woman III” với giá 137,5 triệu đô la cho Steven Cohen, cũng là một nhà đầu tư mạo hiểm và nhà sưu tập tranh. Với giá này, “Woman III” chiếm vị trí thứ 12 trong “Top 20” những họa phẩm đắt giá nhất thế giới.

Hội họa thế giới có trường phái “hậu ấn tượng” (post-impressionist), trong nhóm này, mổi tiếng nhất là “bộ ba” Paul Cézanne (1839 -1906), Vincent van Gogh (1853 -1890) và Paul Gauguin (1848-1903). Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi nói đến Gauguin trước vì một trong những tác phẩm của ông đã lọt vào hàng đầu cùng với Kooning trong danh sách “Top 20”.

Cũng như Cézanne, Gauguin là người Pháp, ra đời tại Paris, nhưng mẹ ông lại là người Peru, gốc Tây Ban Nha. Thế cho nên cuộc đời sáng tác của Gauguin cũng gắn bó với vùng Thái Bình Dương và những người có nước da ngăm ngăm như ở Tahiti.

Gauguin đã từng là bạn thân với Van Gogh, có một thời gian 9 tuần hai người cùng sáng tác bên nhau cũng như đồng tổ chức những cuộc triển lãm tranh. Ngày 23/12/1888 Gauguin gặp Van Gogh, trên tay có một lưỡi dao cạo, và tối hôm đó Van Gogh cắt tai trái của mình. Tình bạn của hai người chấm dứt trong bí ẩn từ đó, họ không gặp lại nhau nhưng thỉnh thoảng vẫn thư từ qua lại.


Le Rêve (có nghĩa là "Giấc mơ" trong tiếng Pháp) là một bức tranh sơn dầu có kích thước 130 x 97 cm được danh họa Pablo Picasso vẽ vào năm 1932, mô tả người tình 24 tuổi của Picasso là Marie-Thérèse Walter. Bức tranh được cho là vẽ vào buổi chiều ngày 24 tháng 1 năm 1932. Bức tranh được đấu giá bởi hãng Chirstie's vào năm 1997, với giá bán là 48.4 triệu đô-la Mỹ. Bức tranh được mua lại bởi Wolfgang Flöttl.

Le Rêve”, xếp hạng thứ 9 trong “Top 20” với giá 155 triệu đô la

Có một thực tế rất phũ phàng trong cuộc đời sáng tác của Gauguin. Khi còn sinh thời, tác phẩm của ông không được đánh giá cao, phải đợi đến khi ông qua đời giới thưởng ngoạn cũng như các nhà sưu tầm tranh mới để mắt đến và kết quả như đã nói ở trên. Bức tranh “Nafea Faa Ipoipo” của ông hiện giữ kỷ lục với giá 300 triệu đô la, đồng hạng nhất với bức “Interchange” của Kooning trong “Top 20”.

Nafea faa ipoipo” là tiếng Tahiti, hàm ý “Khi nào em sẽ kết hôn với anh?”. Gauguin vẽ bức tranh này năm 1892 nhân chuyến đến thăm Tahiti lần đầu tiên vào năm 1891. Trước khi đến đó, ông đã hy vọng tìm thấy một một thiên đường nơi  ông có thể tạo ra thứ nghệ thuật tinh khiết và nguyên thủy.

Tuy nhiên, khi đến nơi, ông đã nhận thấy rằng Tahiti bị chiếm làm thuộc địa từ thế kỷ 18, và ít nhất hai phần ba cư dân bản địa trên hòn đảo đã bị chết do các bệnh tật từ châu Âu mang lại. Văn hóa “nguyên thủy” đã bị xóa sổ. Gauguin đã vẽ rất nhiều hình ảnh phụ nữ bản xứ trong các tư thế khỏa thân, mặc quần áo Tahiti truyền thống, và mặc trang phục truyền giáo kiểu phương Tây.

Họa sĩ cuối cùng chúng tôi muốn nói đến là Paul Cézanne. Các tác phẩm của Cézanne thể hiện sự sắc sảo trong bố cục, tinh tế qua màu sắc với những nét vẽ sống động mang tính đặc trưng. Ông còn được coi là “cây cầu nối” giữa “trường phái ấn tượng” (impressionism) của thế kỷ 19 với “trường phái lập thể” (cubism) vào đầu thế kỷ 20.

Thường thì các họa sĩ trong giai đoạn khởi đầu đều là những người kém may mắn trong cuộc sống vì xuất thân từ những gia đình nghèo khó. Ngược lại với họ, Cézanne sinh trưởng trong một gia đình có người cha làm chủ một ngân hàng. Tuy nhiên, ông sớm “thoát ly” gia đình giàu có để theo đuổi niềm đam mê hội họa của mình.

Dưới sự hướng dẫn của Camille Pissarro, một họa sĩ sống tại vùng quê gần gũi với thiên nhiên. Sáng tác của Cézanne chuyển từ những gam mầu tối sang những sắc mầu sinh động của những cánh đồng và trang trại ngoài trời (en plein air).

-“Nude, Green Leaves and Bust”, xếp hạng thứ 18 trong “Top 20” với giá 106.5 triệu đô la

Vào thập niên 1980, nhóm họa sĩ theo trường phái ấn tượng không mấy thành công về tiền bạc qua việc bán tranh. Thêm vào đó, những phê bình khá gay gắt về những tác phẩm của Cézanne khiến ông rời thủ đô Paris để sống tại vùng quê.

Có thể nói, trong suốt cuộc đời nghệ thuật, chưa khi nào Cézanne hài lòng với những kỳ vọng của mình. Nhiều sáng tác đã bị bỏ giở nửa chừng và cũng không ít tác phẩm hoàn chỉnh đã bị chính tay ông thiêu hủy. Thế nhưng, hậu thế lại trân trọng những tác phẩm của ông đến độ bức “The Card Players” được xếp hạng thứ 3 trong “Top 20”.

Cézanne vẽ tổng cộng 5 bức tranh sơn dầu với chủ đề “Những Người Chơi Bài”, số người chơi khác nhau, từ 2 đến 3 (không kể người chầu rìa!) và hầu như ai cũng ngậm ống vố trên môi. Họ là những người ở vùng quê Provençal được họa sĩ vẽ vào năm 1892–93 trong thời kỳ cuối đời.

van-goghMột trong những bức “Những Người Chơi Bài” của Cézanne được đấu giá và kết quả dừng lại tại giá 259 triệu đô la, giữ vị thứ 3 trong “Top 20”. Những phiên bản khác của “The Card Players” hiện được trưng bày tại các Viện bảo tàng nghệ thuật ở Massachusetts, Pennsylvania, New York và Luân Đôn.

Qua câu chuyện “Họa sĩ… vẽ ra tiền?” người đọc có thể tự trả lời thắc mắc của mình.

Với chúng tôi, câu trả lời là “Đúng vậy” mà cũng là “Không phải vậy”.

“Đúng” thì thực tế đã chứng minh còn “Không đúng” vì những tranh họ “vẽ ra tiền” nhưng bản thân các họa sĩ không hề hưởng một xu nào.

Các nhà đấu giá, các nhà sưu tập hội họa đã hưởng trọn số tiền mà các họa sĩ trước đó đã sáng tác trong nghèo khó!

Nguyễn Ngọc Chính



GS. NGHIÊM THẨM

 Bài viết #014 Bút ký học đường: Brian-TUỆ TRÍ NGUYỄN GIỚI THIỆU MỘT TRONG GIÁO SƯ DẬY MÔN LỊCH SỬ MỸ THUẬT VIỆT NAM VÀ ĐÔNG PHƯƠNG TẠI TRƯỜ...